“Diễm Xưa” và Yoshimi Tendo

Nguyễn Hiền

Trong số những bản nhạc đã từng được dịch sang tiếng nước ngoài, Trịnh Công Sơn và Phạm Duy đứng đầu. Nói đến nhạc Trịnh Công Sơn, ta không thể bỏ qua “Diễm Xưa”, một bản tân nhạc Việt đã tạo nên tiếng tăm, không riêng ở Việt Nam mà còn ở Nhật Bản. Ở Việt Nam, Khánh Ly, trong mối duyên văn nghệ với Trịnh Công Sơn đã đưa bản Diễm Xưa của ông thành một bản nhạc đi vào mọi tầng lớp quần chúng, gắn liền với tên tuổi hai người. Ở Nhật Bản, “Diễm Xưa” đã có duyên gặp được người khai phá. Đó là ca sĩ Yoshimi Tendo. Phiên bản tiếng Nhật của “Diễm Xưa” – Utsukushii Mukashi – nhờ ca sĩ Yoshimi Tendo mà chiếm được ngôi vị cao trong làng nhạc Nhật.

Trịnh Công Sơn và Khánh Ly của những ngày Diễm Xưa
Trong số những bản nhạc đã từng được dịch sang tiếng nước ngoài, Trịnh Công Sơn và Phạm Duy đứng đầu. Nói đến nhạc Trịnh Công Sơn, ta không thể bỏ qua “Diễm Xưa”,  một bản tân nhạc Việt đã tạo
Trong số những bản nhạc đã từng được dịch sang tiếng nước ngoài, Trịnh Công Sơn và Phạm Duy đứng đầu. Nói đến nhạc Trịnh Công Sơn, ta không thể bỏ qua “Diễm Xưa”, một bản tân nhạc Việt đã tạo

nên tiếng tăm,   không riêng ở Việt Nam mà còn ở Nhật Bản. Ở Việt Nam, Khánh Ly, trong mối duyên văn nghệ với Trịnh Công Sơn đã đưa bản Diễm Xưa của ông thành một bản nhạc đi vào mọi tầng lớp quần chúng, gắn liền với tên tuổi hai người.  Ở Nhật Bản, “Diễm Xưa” đã có duyên gặp được người khai phá. Đó là ca sĩ Yoshimi Tendo. Phiên bản tiếng Nhật của “Diễm Xưa” – Utsukushii Mukashi – nhờ ca sĩ Yoshimi Tendo mà chiếm được ngôi vị cao trong làng nhạc Nhật.

Lai lịch ca khúc “Diễm Xưa”

DIỄM XƯA VÀ YOSHIMI

Diễm Xưa” được Trịnh Công Sơn sáng tác năm 1960, lấy cảm hứng từ tình yêu thầm lặng ông dành cho Ngô Vũ Bích Diễm, một cô gái Huế gốc Hà Nội mà ông đã nhiều năm yêu thầm. Trịnh Công Sơn đã viết một bài về Bích Diễm như sau: 

Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến Trường Đại học Văn khoa ở Huế. Nhiều ng ày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi qua dưới những vòm cây long não. Có rất nhiều mùa nắng và mùa mưa cũng theo qua. Những mùa nắng, ve râm ran mở ra khúc hát mùa hè trong lá. Mùa mưa Huế, người con gái ấy đi qua nhạt nhòa trong mưa giữa hai hàng cây long não mờ mịt…

Nhà cô ấy ở bên kia sông, mỗi ngày phải băng qua một cây cầu rồi mới gặp hàng long não để đến trường.

 

Từ ban công nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng ấy đi đi về về mỗi ngày bốn bận. Thời buổi ấy những người con gái Huế chưa hề dùng đến phương tiện có máy nổ và có tốc độ chóng mặt như bây giờ. Trừ những người ở quá xa phải đi xe đạp, còn lại đa số cứ đến trường bằng những bước đi thong thả hoàng cung. Đi để được ngắm nhìn, để cảm thấy âm thầm trong lòng, mình là một nhan sắc. Nhan sắc cho nhiều người hoặc chỉ cho một người thì có quan trọng gì đâu. Những bước chân ấy từ mọi phía đổ về những ngôi trường với những cái tên quen thuộc, đôi khi lại quá cũ kỹ.

Đi để được những con mắt chung quanh nhìn ngắm nhưng đồng thời cũng tự mình có thì giờ nhìn ngắm trời đất, sông nước và hoa lá thiên nhiên. Long não, bàng, phượng đỏ, muối, mù u và một dòng sông Hương chảy quanh thành phố đã phả vào tâm hồn thời con gái một lớp sương khói lãng mạn thanh khiết. Huế nhờ vậy không bao giờ cạn nguồn thi hứng. Thành cổ, đền đài, lăng tẩm khiến con người dễ có một hoài niệm man mác về quá khứ hơn và một phần nào cũng cứu rỗi cho con người ta khỏi vành đai tục lụy. Và từ đó Huế đã hình thành cho riêng mình một không gian riêng, một thế giới riêng. Từ đó con người bỗng đâm ra mơ mộng và ước mơ những cõi trời đất như không có thực.

Nhưng thật sự thực và mơ là gì? Thật ra, nói cho cùng, cái này chỉ là ảo ảnh của điều kia. Và với những ảo ảnh đó đã có một thời, khá dài lâu, những con người lớn lên trong thành phố nhỏ nhắn đó đã dệt gấm thiêu hoa những giấc mơ, giấc mộng của mình. Đó cũng là thời gian mà mỗi sớm tinh mơ, mỗi chiều, mỗi tối, tiếng chuông Linh Mụ vang xa trong không gian, chuyền đi trên dòng sông để đến với từng căn nhà khép hờ hay đang đóng kín cửa.

Thời gian trôi đi ở đây lặng lẽ quá. Lặng lẽ đến độ người không còn cảm giác về thời gian. Một thứ thời gian không bóng hình, không màu sắc. Chỉ có cái chết của những người già, vào mùa đông giá rét, mới làm sực tỉnh và bỗng chốc nhận ra tiếng nói thì thầm của lăng miếu, bia mộ ở những vùng đồi núi chung quanh.

Trong không gian tĩnh mịch và mơ màng đó, thêm chìm đắm vào một khí hậu loáng thoáng liêu trai, người con gái ấy vẫn đi qua đều đặn mỗi ngày dưới hai hàng cây long não để đến trường. Đi đến trường mà đôi lúc dường như đi đến một nơi vô định. Định hướng mà không định hướng bởi vì những bước chân ngày nào ấy dường như đang phiêu bồng trên một đám mây hoang lạc của giấc mơ.

Người con gái ấy đã đi qua một cây cầu bắc qua một dòng sông, qua những hàng long não, qua những mùa mưa nắng khắc nghiệt, để cuối cùng đến một nơi hò hẹn. Hò hẹn nhưng không hứa hẹn một điều gì. Bởi vì trong không gian liêu trai ấy hứa hẹn chỉ là một điều hoang đường. Giấc mơ liêu trai nào cũng sẽ không có thực và sẽ biến mất đi.

Người con gái đi qua những hàng cây long não bây giờ đã ở một nơi xa, đã có một đời sống khác. Tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Kỷ niệm nào cũng đáng nhớ nhưng cứ phải quên. Người con gái ấy là Diễm của những ngày xưa.(Diễm của những ngày xưa – Trịnh Công Sơn)

divider

“Diễm Xưa” từng được một số ca sĩ trình bày nhưng chỉ khi qua tiếng hát Khánh Ly, bài hát đã thực sự đi vào lòng người. “Diễm Xưa” được thâu trong băng nhạc Sơn Ca 7 “Khánh Ly và những tình khúc của Trịnh Công Sơn”, phát hành năm 1974. Trước đó, vào năm 1970, Khánh Ly đã được hãng đĩa Myrica Music mời sang Tokyo thu âm hai bản nhạc của Trịnh Công Sơn: “Diễm Xưa” và “Ca Dao Mẹ”. Cũng trong năm đó, tại Hội chợ Quốc tế Osaka, Khánh Ly đã trình diễn phiên bản tiếng Nhật của “Diễm Xưa” – Utsukushii Mukashi – trước hàng trăm nghìn khán giả tham dự hội chợ. Không lâu sau đó, hãng đĩa Nippon Columbia đã phát hành đĩa nhạc có bản Utsukushii Mukashi cùng một số ca khúc khác của Trịnh Công Sơn.

Nghe Khánh Ly hát Diễm Xưa lời Nhật năm 1970 tại trước trụ sở Ngân Hàng Việt Nam tại Osaka trong chương trình Ngày Việt Nam tại Expo 70.

Nằm ngoài sức tưởng tượng của mọi người, Utsukushii Mukashi nhanh chóng trở thành một ca khúc thuộc hàng “top hit” trên thị trường âm nhạc Nhật Bản tại thời điểm đó, cùng với tên tuổi Khánh Ly mà báo chí ca ngợi là “ca sĩ hoa hậu áo dài”

CD “Utsukushii Mukashi” của Yoshimi Tendo

Người tiếp tục đưa Utsukushii Mukashi lên những nấc thang cao hơn trong âm nhạc Nhật là Yoshimi Tendo, một trong những nữ danh ca hàng đầu Nhật Bản ở thể loại enka (nhạc dân gian Nhật). Yoshimi Tendo (tên Hán Việt: Thiên Đồng) có tên thật là Yoshida Yoshimi, sinh năm 1957 tại Tanabe. Bắt đầu trình diễn từ 1970, cho tới nay bà đã có gần 50 đĩa Single và gần 50 album.

Năm 1978, Utsukushii Mukashi được đài truyền hình lớn nhất Nhật Bản NHK chọn làm nhạc phẩm chính cho Sài Gòn Kara Kita Tsuma To Musuko (tạm dịch: Vợ tôi và con trai tôi đến từ Sàigòn), một bộ phim dài nói về những khác biệt văn hóa trong gia đình của một người đàn ông Nhật có vợ Việt Nam phỏng theo tác phẩm cùng tên của nhà văn Kondo Koichi.

Yoshimi Tendo chọn Utsukushii Mukashi là một trong những bản nhạc ruột mỗi khi trình diễn. Đặc biệt, Yoshimi Tendo, sau phiên bản tháng 9/2003, đã cho hòa âm bản nhạc theo cách khác và với cách trình bày khác, thích hợp với karaoke. Cả 2 phiên bản này đều được Oricon Entertainment Site đánh giá là 1 trong 10 bài hát hay nhất trong mọi thời đại. Đây là chuyện chưa từng có trong lịch sử âm nhạc Nhật, và cũng là một vinh dự đặc biệt cho cả bản nhạc, nhạc sĩ lẫn ca sĩ.

 

Tiếng Nhật

赤い地の果てに
あなたの知らない
愛があることを
教えたのは誰?

かぜのたよりなの ?
人のうわさなの ?
愛を知らないで
いてくれたならば

ĐK1:
私はいまも あなたのそばで
いのちつづくまで
夢みてたのに
いまは地のはてに
愛を求めて
雨に誘われて
消えて行くあなた
来る日も来る日も    
雨は降り続く
お寺の屋根にも
果てしない道にも
青空待たずに
花はしおれて
ひとつまたひとつ
道に倒れて行く

ĐK2:
誰が誰が 
雨を降らせるのよ
この空にいつまでも
いつまでも
雨よ降るならば
想い出ながすまで
涙のように
この大地に降れ

Phát âm

Akai chi no hate ni
Anata no shiranai
Ai ga koto wo
Oshieta no wa dare?

Kaze no tayori nano?
no uwasa nano?
Ai wo shiranaide
Ite kureta naraba

ĐK1:
Watashi wa ima mo. Anata no soba de
tsuduku made
Yume wo mita noni
Ima wa chi no hate ni
wo motomete
Ame ni sasowarete
Kiete yuku anata
Kuru hi mo kuru mo
Ame wa furi tsuzuku
Otera no yane nimo
Hate michi nimo
Ao zora mata zuni
Hana wa shiorete
mata hitotsu
Michi ni taorete iku

ĐK 2:
Gga dare ga
Ame wo fura seru noyo
Kono sora ni itsu made mo
Itsu made
Ame yo furu naraba
Omoi de nagasu made
no you ni
Kono daichi ni fure

Dịch nghĩa

Ai nói với em
Rằng dưới tận cùng đất đỏ
Có một tình yêu
Mà em không biết?

Lời gió nói chăng?
Hay miệng lưỡi thế gian?
Nếu như em ở bên anh
Mà chẳng hề biết tình yêu là gì

ĐK 1:
Em, giờ đây, vẫn ở bên anh
Tiếp tục số phận của mình
Dẫu vẫn hoài mơ.
Giờ đây, em vẫn mong một tình yêu
Ở miền tối sâu thẳm
Anh rồi sẽ theo cơn mưa kia
Và biến mất.
Từng ngày từng ngày qua
Mưa vẫn rơi hoài rơi mãi
Trên mái chùa
Và trên con đường vô tận
Hoa đành héo tàn
Khi bầu trời chưa kịp xanh
Em mệt nhoài lê bước trên đường

ĐK 2:
Trời cứ mãi làm mưa
Vì ai, vì ai?
Mãi mãi.
Mưa vẫn cứ rơi
Cho đến khi những hồi ức trôi đi
Như những giọt lệ
Xuống mảnh đất này.

Và rồi, vào tháng 7/2004, trường đại học Kansai Gakuin của Nhật Bản đã đưa bài “Diễm xưa” vào chương trình giảng dạy bộ môn Văn hóa và Âm nhạc tại trường.

Thực ra, lời của bản Utsukushii Mukashi không hẳn là dịch từ Diễm Xưa, mà chỉ là lấy ý từ nhạc phẩm này.

Utsukushii có nghĩa là “vẻ đẹp”. Mukashi có nghĩa là “một thời gian dài trước đây”. Gộp chung lại, Utsukushii Mukashi có nghĩa: “(Vẻ) đẹp xưa” hay “Mỹ tích”.

Xin trình bày thêm ở đây lời bài hát tiếng Nhật, phát âm, và bài dịch thoát .

(chú thích: rất tiếc không tìm ra tên tác giả bài dịch)

Nguyễn Hiền

Nguồn: Cái Đình